cart0912 137 927 cartĐăng Ký cartTư Vấn Online

Viêm gan B

Viêm gan B mãn tính phải điều trị như thế nào?

Viêm gan B mãn tính chưa có thuốc chữa khỏi hoàn toàn nên người bệnh rất lo lắng. Bệnh dễ để lại biến chứng nếu điều trị sai cách, vậy đâu là giải pháp tối ưu trong điều trị? 

Viêm gan B do đâu?

Bệnh viêm gan B hay còn gọi viêm gan vi-rút B do vi-rút HBV (Hepatitis B Virus) gây ra. Sau khi nhiễm vào cơ nhể, vi-rút tấn công vào cơ quan đích người là tế bào gan, vi-rút có thời gian ủ bệnh 3-6 tháng tùy thể trạng miễn dịch mỗi người. Sau đó, bắt đầu hoạt động và gây viêm gan B cấp tính. Nếu sau 6 tháng, cơ thể người bệnh không tạo ra kháng thể tự miễn được với vi-rút, bệnh chuyển sang mạn tính.

viêm gan B lây qua đường máu
Virus viêm gan B lây qua đường máu

Ở Việt Nam, từ thập niên 80 trở về trước, vi-rút viêm gan B lây truyền qua bơm kim tiêm chung và lây truyền từ mẹ sang con là chủ yếu. Còn nay, nguồn lây nhiễm viêm gan B chủ yếu từ mẹ sang con, quan hệ tình dục không an toàn, truyền máu. Do đó, khi nhiễm bệnh thời gian ủ bệnh lâu, tỷ lệ trở thành mạn tính cao, dễ gây ra các biến chứng muộn và nguy hiểm như xơ gan, suy gan và ung thư gan.

Diễn biến bệnh viêm gan B

Khi đã bị nhiễm vi-rút viêm gan B, do vòng đời của vi-rút này có giai đoạn ở dạng cccDNA trong nhân tế bào, khiến cho vi-rút viêm gan B tồn tại trong cơ thể hầu như suốt đời. Sự tồn tại vi-rút viêm gan B âm thầm trong cơ thể ở các dạng lâm sàng khác nhau là do, về mối tương tác giữa vi-rút với tế bào gan và hệ thống miễn dịch của cơ thể. Khi nhiễm vi-rút viêm gan B, diễn tiến tự nhiên lần lượt sẽ trải qua 3 pha là:

Pha 1: Pha dung nạp miễn dịch

Hệ thống miễn dịch của bệnh nhân không xem Vi rút viêm gan B như kẻ lạ xâm nhập nên virus tăng sinh không bị kiềm chế (phần được lý giải vi rút viêm gan B tạo ra được một Protein bề mặt ngăn chặn tấn công tế bào miễn dịch T CD8+). Trong pha này số lượng virus thường rất cao >2×10^6 IU/ml ( >10^7 cps/ml), có HBeAg dương tính (chỉ dấu huyết thanh của virus tăng sinh) và ALT liên tục bình thường, gan không có hoặc chỉ có tổn thương tối thiểu nhưng tính lây nhiễm rất cao.

Chuyển đổi huyết thanh HBeAg trong pha này rất thấp gần như không xảy ra. Thông thường ở Việt nam, pha này thường kéo dài khoảng 20 đến 25 năm và không có chỉ định điều trị. Pha này rõ nét ở trẻ sơ sinh nhiễm vi rút HBV từ mẹ. Ở tuổi vị thành niên hay người lớn có thể không có pha này hoặc pha này chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn.

Virus viêm gan B lây từ mẹ sang con
Trẻ sơ sinh dễ nhiễm virus viêm gan B từ mẹ

Pha 2: Pha thải loại miễn dịch 

Lúc này cơ thể người bệnh kích hoạt hệ thống miễn dịch bắt đầu chống lại Vi rút HBV mà biểu hiện trên lâm sàng định lượng vi rút HBV-DNA  giảm (so với pha 1) nhưng hầu hết vẫn ở mức >10^5 cps/ml, HBeAg vẫn dương tính, ALT tăng cao hoặc đôi khi có thể giao động ( Do sự giao tranh giữ hệ miễn dịch và Vi rút HBV trong tế bào gan, làm tế bào gan bị phá hủy men gan ALT chảy vào máu xét nghiệm ALT tăng), tế bào gan phá hủy nhiều gây mô gan có tổn thương viêm và hoại tử và quá trình xơ hóa bắt đầu. 

Pha này kết thúc bằng việc chuyển đổi HbeAg. Pha thải loại miễn dịch càng dài và cường độ càng cao thì tổn thương viêm hoại tử và quá trình xơ hóa gan càng nhanh và để lại nhiều hậu quả dù có chuyển sang pha mang HBV không hoạt động. Chính vì vậy mà trong pha thải loại miễn dịch nếu kéo dài thì có chỉ định điều trị đặc hiệu thuốc kháng Vi rút.

Pha 3: Pha mang HBV không hoạt động

Đặc điểm pha này là HBeAg âm tính và xuất hiện anti HBe; định lương HBV-DNA thấp từ mức không phát hiện đến <10^5 cps/ml. Về bệnh sinh, lúc này hệ thống miễn dịch cơ thể đã kiểm soát được Vi rút viêm gan B người bệnh vẫn theo dõi Vi rút có thể bùng phát lại, tùy vào lượng kháng thể Anti Hbe có được pha này mỗi người khác nhau. Tổn thương gan để lại do pha thải loại miễn dịch nhiều hay ít  tùy vào cơ thể mỗi người bệnh, theo thời gian tổn thương gan tiến triển thêm phụ thuộc vào chế độ ăn uống sinh hoạt.

Vì vậy khi chuyển sang pha mang HBV không hoạt động mà gan còn ít bị tổn thương thì tiền lượng lâu dài là tương đối tốt, biến chứng thấp. Không có chỉ định điều trị đặc hiệu thốc kháng vi rút trong pha này. Tuy nhiên điều lo ngại nhất phần lớn người bệnh qua giai đoạn này, tuy HbeAg âm tính nhưng không có kháng thể AnHbe (antiHBe âm tính) nên rất dễ bị Vi rút nhân lên chuyển sang thể hoạt động gây viên xơ gan tiếp.

Từ pha 3 này, theo dõi lâm sàng có thể xuất hiện theo 2 hướng là: thuận lợi là mất HBsAg với tỷ lệ thấp khoảng 5% hoặc theo hướng xấu đi tức là virus tái hoạt dưới thể viêm gan B có HBeAg âm tính hoặc quay trở về thể viêm gan B có HBeAg dương tính. Trong tình trạng tái hoạt động này có chỉ định đặc trị đặc hiệu Vi rút viêm gan B bằng thuốc kháng vi rút .

viêm gan B gây vàng da vàng mắt
Viêm gan B gây vàng da, vàng mắt

Người ta thường ví bệnh viêm gan Vi rút B kẻ giết người thầm lặng, vì bệnh diễn biến âm thầm, triệu chứng lâm sàng không rõ ràng (trừ cấp tính) nên người bệnh không để ý, cho đến khi khám sức khỏe làm xét nghiệm HbsAg + mới biết mắc bệnh và cũng ko biết bị từ bao giờ, nhiều trường hợp theo dõi men gan bình thường , siêu âm thông thường gan vẫn tốt nhưng khi kiểm tra độ xơ hóa gan ( APRI, Forn, FIB-4 hay Firotest, Actitest hay Fibroscan, ARFI vv…) thì gan đã bị xơ hóa F2, F3, F4. 

Điều trị viêm gan B theo Y học hiện đại

Y học hiện đại chủ yếu dùng thuốc kháng vi rút để điều trị viêm gan B cho người bệnh. Liệu trình phụ thuộc vào 3 yếu tố là:

  • Nồng độ men gan ALT trong máu
  • Tải lượng Vi rút HBV DNA máu
  • Mức độ xơ hóa gan.

Điều trị thuốc kháng vi rút khi đáp ứng cả 2 tiêu chuẩn (1) và (2) 

(1) Tổn thương tế bào gan gan: Men gan ALT > 2 lần và/hoặc xơ hóa gan từ F2 trở lên.

(2) Vi-rút đang tăng sinh

  • HBV DNA ≥ 20.000IU/m (≥ 105 copies/ml) nếu HbeAg Dương tính.
  • HBV DNA  >2.000 IU//ml (≥104 copies/ml) nếu HbeAg âm tính
viêm gan có thể gây xơ gan
Viêm gan virus dễ dẫn tới xơ gan

Đối với các trường hợp chưa đáp ứng 2 tiêu chuẩn trên chỉ điều trị khi có một trong các tiêu chuẩn sau:

  • Trên 30 tuổi men gan ALT hơn bình thường cao kéo dài và tải lượng vi rút > 20.00IU/ml, bất kể tình trạng HbeAg.
  • Tiền sử gia đình có  HCC (ung thư biểu mô tế bào gan), xơ gan cổ chướng.
  • Các bệnh ngoài gan như viêm cầu thân, viêm đa khớp,…
  • Tái phát khi ngưng thuốc điều trị kháng vi-rút.

Điều trị viêm gan B theo Y học cổ truyền 

Điều trị viêm gan vi-rút B theo Y học cổ truyền cần dựa trên những yếu tố: Nâng đỡ hệ miễn dịch, nuôi dưỡng gan, bảo vệ tế bào gan và phục hồi gan xơ hóa.

Đối với các trường hợp đang điều trị thuốc kháng vi-rút

Đây là giai đoạn người bệnh cần tuân thủ thời gian điều tri thuốc kháng vi rút, định kỳ khám kiểm tra men gan AST, ALT, GGT, kiểm tra miễn dịch HbeAg, AntiHBe, định lượng vi rút HBV DNA để đánh giá hiệu quả. Bên cạnh đó cần điều trị theo Y học cổ truyền tăng cường miễn dịch cơ thể giúp có chuyển đổi huyết thanh tốt hơn, tăng hiệu quả điều trị thuốc kháng vi rút, giảm tác dụng phụ thước kháng vi rút trên gan, thận, xương, hệ tiêu hóa, nuôi dưỡng bảo vệ tế bào gan, phục hồi tổ chức gan xơ hóa.

Đối với các trường hợp chưa điều trị thuốc kháng vi-rút

Trường hợp vi rút không hoạt động (HbeAg âm tính) hoặc trường hợp vi rút thể hoạt động nhưng chưa có tổn thương gan sẽ không cần dùng thuốc kháng vi rút để điều trị. Tuy nhiên, người bệnh không nên chủ quan mặc kể vì lá gan rất cần được bảo vệ, tăng cường chức năng, từ đó hỗ trợ giảm tải lượng vi rút và ngăn ngừa các biến chứng. 

Phương pháp Cân bằng Gan – Lách là phương pháp tốt nhất cho những trường hợp này. Phương pháp được Dược sĩ Phạm Xa công bố tại Hội nghị Gan mật toàn quốc lần thứ 14 sau hơn 20 năm nghiên cứu trước sự có mặt của hơn 700 Chuyên gia, Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ đầu ngành từ nhiều bệnh viện, đại học lớn cả nước.

Để được tư vấn cách điều trị tốt nhất khi bị viêm gan B, bạn vui lòng gọi tới tổng đài 18006927 hoặc nhắn tin qua Zalo 0912137927.

Tin liên quan
Subscribe
Thông báo về
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments